Cấu trúc máy ép nhựa | Kiến Thức Ngành Nhựa Việt Nam

Cấu trúc máy ép nhựa

Khuôn ép nhựa 0 lượt xem
Máy đúc nhựa gồm hệ thống phun, khuôn và hệ thống kẹp. Chương này giải thích kết cẩu của phần tử cơ bản.

 

(Kích vào mỗi phần, sự giải thích sẽ hiện ra trên màn hình)

Hệ thống phun bơm

Hệ thống phun hóa chảy “plasticsizes” Vật liệu đúc molding material và phun nó vào Trong lòng khuôn “cavity”.
Thiết bị quan trong nhất trong là xi lanh vít, tạo ra sự khác biệt lớn trong điều kiện khuôn.
Vít dưới xi lanh vít được chia ra làm 3 phần.

�X�N�����[�ڍ�

Bộ phần truyền

Phần này truyền nhựa nhận được từ phễu vào trong phần nén trong khi đó làm ấp lại vật liệu.Nó được thiết kế để truyền nhựa hơn là trộn lẫn chúng. Do đó, rãnh của nó (h1) là sâu hơn.

Phần nén ép

Vật liệu đúc được truyền từ bộ phần truyền sau đó được trộn đều để tạo nhiệt và hóa lỏng vật liệu.Rãnh của vít trở nên nông hơn, và áp lực nén trở nên mạnh hơn khi gần tới phần pha chế . Vít ở phần nén có chức năng ép lực khí và nước từ nhựa nóng chảy và đẩy trở lại phần truyền.

Phần pha trộn

Phần này trộn vật liệu nhiều hơn và tạo ra nhựa nóng chảy hoàn toàn.Như rãnh (h2) ở vít là nông, Lực shear sẽ phát triển trong phần này và cao hơn trong phần nén.

Đường kính trục vít và áp lực nén

Đường kính trục vít có liên quan to áp lực nén “injection pressure”ở một mức độ nhất định cho mỗi một máy ép phun.
Nếu kích thước của trục vít thay đổi, áp lực phun của máy ép phun cũng thay đổi.
Để xác định áp lực nén, Những giá trị sau đây được sử dụng để tính toán: (1) Đường kính trục vít và áp lực thủy lực, hoặc (2) áp lực phun phun và áp lực thủy lực, hoặc (3) áp lực nén thực tế được tính toán bởi áp lực phun và áp lực thủy lực.
Áp lực nén và áp lực phun sẽ theo sau:

Hãy chú ý tới áp lực thủy lực và không được chỉ ra áp lực nén thực tế.

Dung tích 1 lần bơm, sức tải bơm ( Khối lượng)

Sự đúc không thể thực hiện nếu dung tích đẩy quá ít.
Dung tích cho một lần phun không chỉ là dung tích cho một lần phủ đầy lòng khuôn “cavity”; mà còn là dung tích của rãnh dẫn “runner” and đậu ngót “sprue” .
Công thức tính toán cho mỗi lần phun được tính theo sau:

Bạn có thể giả định rằng dung tích phun thực tế mà máy ép phun có thể sản xuất là nhỏ hơn giá trị được chỉ ra trong cataloge của nhà sản xuất.
Giá trị trong cataloge thường là hành trình lớn nhất và điều chỉnh theo con số lý thuyết. Dung tích bị thất thoát không kiểm soát được.
Dung tích thất thoát thường chảy ngược lại của dòng nhựa nóng chảy trong khi nén. làm hóa lỏng “plasticated” nhựa nóng chảy Độ nhớt “viscosity” thấp mất một lượng đáng kể của lực nén. Nhựa nóng chảy với độ nhớt cao có xu hướng làm ít tốn lực nén hơn.
Dung tích phun khác nhau khác nhau phù thuộc vào môi trường tự nhiên và điều kiện đúc của vật liệu đúc “molding material”. Tuy nhiên, Dung tích phun chính xác nhất là 60% đến 70% của dung tích lý thuyết.

Tỉ lệ phun

Tỉ lệ phun là dung tích bơm nhựa vào lòng khuôn trên đơn vị thời gian, nó giống như là Tốc độ phun “injection speed”.
Thời gian phun ngắn, Thì chù kỳ đúc “molding cycle” sẽ ngắn.
Trong ngành đúc công nghiệp, trong nhiều trường hợp, chất lượng của sản phẩm đúc không thể được đảm bảo trừ khi nó được phun với áp lực cao và tốc độ cao. Cho ví dụ, khi đúc trên máy ít hơn 100 tấn của lực kẹp “clamping force” ít hơn 1 phút được cho là thích hợp.
Trong trường hợp vật đúc mỏng hơn, Tốc độ phun cao đặc biệt được đòi hỏi để lấp đầy nhựa trong khuôn. Do đó tỉ lệ phun cao là cần thiết.

Khả năng hóa lỏng và tốc độ của trục vít

Máy ép nhựa thực hiện sự làm dẻo “plastication” của vật liệu đúc “molding material” trong khi sản phẩm sản phẩm trở nên lạnh và đóng cứng “solidified”.
Chù kỳ đúc “molding cycle” sẽ bị tiêu tốn trừ khi hóa dẻo hoàn toàn là hoàn toàn trong thời gian làm lạnh và đóng cứng. Do vậy, Đúc phun “molding injection” đòi hòi khả năng hóa dẻo lớn.
Dung tích hóa dẻo sẽ tăng lên nếu trục vít quay nhiều hơn. Tuy nhiên, điều này là nguyên nhân của sự mất nhiệt đến vật liệu đúc, ví thế , có lời khuyên đưa ra là không nên tăng số lần tốc độ trục vít.

Vấn đề khác

Khi chu kỳ đúc “molding cycle” nhanh, là quan trong hơn tính chính xác của sản phẩm, máy ép với khả năng hóa dẻo “plasticating” cao hơn là hiệu quả.
Sản phẩm khi nóng chảy với độ nhớt “viscosity” cao sẽ đòi hỏi momen hoạt động cho trục vít lớn. Trong nhiều trường hợp, nó sẽ là tốt hơn để sử dụng sự tích hợp sự chộn lẫn hơn là khẳ năng hóa dẻo.

Thiết bị kẹp

Thiết bị kẹp được thắt chặt khuôn với lực lớn để giữ khuôn khi mở và đóng vì sự tác động của áp lực phun. Ngay nay thường được chạy bằng dầu thủy lực.
Có hai hệ thống chính: Hệ thống áp lực trực tiếp và hệ thống truyền:

Hệ thống áp lực trực tiếp:

Nó là hệ thống trực tiếp được sử dụng trong khuôn để thắt chặt bởi thủy lực.Lực kẹp “clamping force” làm việc mọi nơi dọc theo miền dải kẹp.

Hệ thống truyền

Đây là hệ thống sử dụng thiết bị máy tên tiếng anh là “toggle link”. Tiếng việt thì mình chưa biết gọi là gìLực kẹp tới lực trong máy, nhưng lực làm việc chỉ khi cánh tay truyền doãi thẳng hoàn toàn. Do vậy, nó là cần thiết để điều chỉnh thiết bị kẹp theo chiều dầy của khuôn.

Sau đây là sự so sánh giữa hệ thống áp lực trực tiếp và hệ thống truyền :

[So sánh giữa hệ thống áp lực trực tiếp &hệ thống truyền]

Điều kiện so sánh
Hệ thống áp lực trực tiếp
Hệ thống truyền
Tốc độ của mở/đóng
Chậm
Nhanh
Thay khuôn
Dễ
Cần điều chỉnh độ dầy của khuôn
Lực kẹp khuôn
Lực đều nhau như là thủy lực
Nhiều lực hơn lực đưa ra do có thêm lực thắt chặt của máy
Cài đặt lực kẹp
Dễ
Gần như nó phụ thuộc vào độ thắt chặt của bu lông
Hành trình mở khuôn
Small
Lớn

Tính toán lực kẹp

Lực kẹp được tính toán như sau:
[Ví dụ] Giả sử bạn làm 2 khuôn có sản phẩm như sau (Đơn vị : mm) :
Lực kẹp đòi hỏi F [kgf] được tính toán bởi giá trị sau:
FA*P/0.8
A : Tổng diện tích chiếu của sản phẩm[] P : Áp lực trung bình dưới lòng khuôn “cavity” [kgf/] 0.8 : Hệ số an toàn

Trong trường hợp bản vẽ ở trên, A trở thành Diện tích chiếu cho hai lòng khuôn và rãnh dẫn “runner” Đường phân khuôn “parting line”. Tổng là gì?

A= Diện tích chiếu của lòng khuôn + Diện tích chiếu của rãnh dẫn=(190*150)*2+(30*3)=57090 []=570.9[]

Giả sử P=400 [kgf/],F570.9*400/0.8285450[kgf]285.45[tf]

Do đó, Do vậy máy ép phun 285.45 tấn lực kẹp sẽ được sử dụng.

Hành trình đóng và mở khuôn

Hành trình đóng/mở khuôn cần được kiểm tra triệt để; mặt khác, Sản phẩm sẽ không được di chuyển khỏi khuôn.
Trong hệ thống truyền, vị trí bộ liên kết “toggle link” được di chuyển bởi thiết bị điều chỉnh độ dày, và khuôn được thắt chặt trong khi mối liên kết được doãi hoàn toàn. Cũng như, Hành trình được đảm bảo giữa độ dày lớn nhất và nhỏ nhất của khuôn.
Trong hệ thống áp lực trực tiếp, Không có cấu trúc để di chuyển thiết bị kẹp. Do đó, Hành trình có thể được đảm bảo ở độ dầy nhỏ nhất. Hãy tính toán cận thận và chú ý rằng hành trình sẽ giảm đi khi khuôn trở nên dày hơn.

Hệ thống truyền dầu và điện

Gần đây, phần lớn máy ép phun đều chảy trên hệ thống dầu thủy lực.
Bời vì hệ thống thủy lực dễ để điều chỉnh tốc độ và áp lực và bởi vì nó có thể truyền lực trực tiếp tự do và linh hoạt.
Thiết bị thủy lực bao gồm các phần sau:
  • Phần nguồn, mà gửi dầu, nguồn của lực, vào mạch thủy lực.
  • Van được điều chỉnh dòng chảy và lưu lượng của dầu.
  • Bộ truyền động được thực hiện làm việc bởi lực nhận được bởi dầu.

Thông số truyền máy chạy điện

Sau đây là 3 loại bảng mạch điện được sử cho khuôn ép phun:
  • Mạch truyền tải điện-Điều khiển thiết bị thủy lực
  • Mạch nhiệt điện- Điều khiển nóng với vít xi lanh
  • Mạch nguồn cấp điện-Điện mô tơ-(động cơ, bơm) Điều khiển
Để điều khiển mạch điện, Không có điểm dừng (Nghĩa là liên tục hoặc in trình tự) Với IC là đang bị làm việc.

 

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *